"Trong hơn hai thập kỷ qua, phương pháp phê bình "Thi pháp học" xuất hiện ngày càng nhiều trong đời sống văn học nước ta như một thứ thời trang học thuật, lôi cuốn hàng loạt nhà nghiên cứu phê bình văn học thuộc các lứa tuổi khác nhau. Không mấy người biết rằng người đi tiên phong trong việc tạo ra "mốt" phê bình mới - phê bình thi pháp - ở Việt Nam là nhà nghiên cứu văn học Trần Đình Sử" (Đỗ Minh Tuấn).
49 NĂM VỀ TRƯỚC, ANH ĐÃ LÀ THẦY CỦA TÔI
GS.NGƯT Nguyễn Khắc Phi
Đọc tiêu đề trên, hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên vì tôi hơn anh Sử đến 6 tuổi, lại tốt nghiệp Đại học trước 4 năm, sao anh ấy lại có thể là thầy của tôi được? Sự thực là thế đấy, vì theo đạo lí truyền thống, nhất tự vi sư mà! Là con nhà khoa bảng nhưng từ năm 1946 tôi đã xuống học Quốc học Vinh (bấy giờ gọi là Trường Trung học Nguyễn Công Trứ), sau về học Trường Đậu Quang Lĩnh ở Đức Thọ, lúc được về học trường huyện nhà (Hương Sơn, Hà Tĩnh), vì qua sông cách trở vẫn phải ở trọ xa nhà, nên hầu như tôi chưa được thụ giáo ông cụ về chữ Hán, ngoại trừ việc thỉnh thoảng về thăm nhà được cụ truyền khẩu cho một vài bài thơ ngắn gọn, dễ hiểu kiểu “Xuân du phương thảo địa, Hạ thưởng lục hà trì…” hoặc Xuân miên bất giác hiểu, Xứ xứ văn đề điểu…” hay giải thích ý nghĩa một số câu danh ngôn của các bậc hiền triết, ý nghĩa của một vài đôi câu đối hoặc bức hoành phi trên các dãy cột hay tường nhà. Nghĩ lại thật đáng tiếc! Đến năm cuối Đại học, chúng tôi mới tự động lập được một nhóm tự học tiếng Trung Quốc. Nhóm có 4 người: tôi và 3 sinh viên Miền Nam nay đều đã qua đời (anh Nguyễn Văn Hiền, đã hi sinh trên đường đi công tác B năm 1962; anh Trương Đình Nam, sau này là Phó ban Khoa giáo tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng; anh Hồ Đình Phương, sau này là Giám đốc Sở Giáo dục tỉnh Đắc Lắc). Giáo trình tự chọn là Bộ Chức công thức tự khóa bản, “lớp học” là các toa tàu điện hoặc hè phố dọc theo những con đường từ Khu học xá Đông Dương ở Bạch Mai đến Đại giảng đường Lê Thánh Tôn! Chúng tôi viết những chữ mới lên từng mẫu giấy nhỏ cỡ 3cm x 4cm cho vào hộp diêm không, rồi rút ra đố nhau trên đường đi học. Chuyên cần và khẩn trương, đến giữa học kì 2, chúng tôi đã học xong cả bộ 4 cuốn với khoảng 2000 đơn vị từ. Dĩ nhiên chỉ có thể xem là đã “xóa mù” về phương diện đọc và phần nào là viết, còn nói và nhất là nghe thì cơ bản vẫn thuộc diện “câm điếc”! Với vốn liêng như vậy thì hẳn là chưa thể đi du học được. Cho nên, sau 2 năm công tác tại ĐHSP Vinh, khi được cử đi học tại Bắc Đại (Đại học Tổng hợp Bắc Kinh), tôi được nghỉ dạy để ra Hà Nội trang bị thêm những kiến thức cần thiết. Bấy giờ chưa có trường chuyên tu nên để nâng cao trình độ ngoại ngữ, tốt nhất là xin học dự thính ở các khoa ngoại ngữ thuộc Trường ĐHSP Hà Nội. Được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm Khoa Trung văn, tôi đã học theo chế độ dự thính với một thầy có thâm niên là Chu Quý và một thầy trẻ nhất khoa vừa tốt nghiệp, đó chính là anh Trần Đình Sử. Lúc đó, anh mới 21 tuổi, thuộc vào loại cán bộ giảng dạy trẻ tuổi nhất của nền Đại học cũng còn rất non trẻ của chúng ta. Vì bận theo dự lớp triết học rồi mĩ học với chuyên gia Liên Xô, tôi chỉ có thể dự thính một số giờ, trọng tâm là tập, luyện nghe và nói. Tuy vậy, với sự quan sát của một sinh viên dự thính “đặc biệt”, của một cán bộ giảng dạy có thâm niên đại học 4 năm, ngay từ bấy giờ, tôi đã cảm nhận được phần nào triển vọng về con đường khoa học của anh, đã tiên lượng rằng bãi đáp của anh sau này không phải là ngoại ngữ. Điều thú vị là sau những tháng ngày dạy - học như vậy, “thầy trò” chúng tôi lại cùng nhau đi làm các thủ tục để chuẩn bị cho việc đi học nước ngoài vì tôi và anh có tên trong cùng một quyết định. Mặc dầu chuyến du học và cũng là lần xuất ngoại đầu tiên này của tôi không trở thành hiện thực, song những ấn tượng rõ nét về người cán bộ giảng dạy thông minh, trẻ tuổi và tài hoa ấy vẫn còn được lưu giữ mãi trong tôi và kết quả cụ thể của những giờ học dự thính ấy vẫn phát huy được kết quả lâu dài. Trong những chuyến tham quan hoặc công tác ở Trung Quốc sau này, không ít bạn Trung Quốc đã tỏ ra ngạc nhiên khi biết tôi chủ yếu là tự học mà phát âm tiếng Trung Quốc khá chuẩn. Được như thế, phải nói là có phần đóng góp của 2 anh Chu Quý và Trần Đình Sử.