
Đang tải nội dung...
Xin vui lòng chờ trong giây lát

Ông tự bạch: “Tôi sinh vào 9 giờ kém 10 phút tối, ngày 12/12/1934, tức là vào giờ con chó (Tuất), ngày Sáu tháng Một năm Giáp Tuất tại Hải Dương, là dòng dõi con cháu nhà Trần. Theo khoa tử vi học phương Đông cổ truyền, số phận của tôi là ngọn lửa đầu non (Sơn đầu hoả) và thân phận của tôi là dịch chuyển (Thân cư thiên di). Nay vào tuổi bảy mươi, diễn biến của đời tôi đúng là như vậy. Dù đã ở tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng một năm tôi chỉ ở Hà Nội khoảng 100 ngày, những ngày còn lại là đi khắp chốn cùng quê, đào bới, phát hiện những “tầng” văn hoá...” Từ giữa năm 1956, sau khi , ông trở thành thầy giáo của Khoa Lịch sử, Đại học Tổng Hợp Hà Nội. Suốt cả cuộc đời, GS. Trần Quốc Vượng gắn bó thuỷ chung, cho Khoa Lịch sử của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- ĐHQGHN. Trong sự nghiệp đào tạo, nghiên cứu, GS. Trần Quốc Vượng là người đã góp phần xây dựng Bộ môn Khảo cổ học, có công gây dựng Trung tâm Nghiên cứu Liên Văn hoá-Lịch sử, Bộ môn Văn hoá Du lịch, Bộ môn Lịch sử Văn hoá Việt Nam và môn Địa lý Nhân văn... Ông là một trong những người khơi mở và đi đầu trong hướng tiếp cận liên ngành và đa ngành trong nghiên cứu các ngành sử học, văn hoá học... Ngoài công tác đào tạo, nghiên cứu ở Khoa Lịch sử, ông còn giữ cương vị Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội. Ông liên tục được bầu làm Phó Chủ tịch Hội Văn hoá-Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Chủ nhiệm CLB Văn hoá Ẩm thực Việt Nam, Phó chủ nhiệm CLB Nghề truyền thống Việt Nam... Với ngành Sử học, GS. Trần Quốc Vượng là Chủ tịch Hội sử học Hà Nội khoá II và là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khoá IV, khoá V. Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, đơn vị Anh hùng không thể có được những thành tựu và kết quả nghiên cứu, đào tạo nổi bật như hiện nay, nếu không có sự đóng góp công sức và trí tuệ của những người thầy, những nhà khoa học gắn bó, say mê, yêu nghề, yêu người như GS. Trần Quốc Vượng. Do có nhiều cống hiến nổi bật, năm 1980, ông được Nhà nước phong học hàm Giáo sư và đến năm 1990, được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú. Bên cạnh những huy chương Vì thế hệ trẻ, Vì sự nghiệp Giáo dục, Vì sự nghiệp Khoa học-Công nghệ, Vì sự nghiệp Văn hoá - Nghệ thuật, Vì sự nghiệp Văn hoá Dân gian, Vì sự nghiệp Biên phòng... GS. Trần Quốc Vượng đã được Đảng và Nhà nước trao tặng các huân chương cao quý: Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng Nhì, Huân chương Lao động hạng Nhất. Là một trong bốn người được các thế hệ học trò Khoa Lịch sử tôn vinh là ”tứ trụ“ của khoa, tên tuổi của GS. Trần Quốc Vượng đã trở thành niềm tự hào của nhiều thế hệ sinh viên. Trong lòng mỗi học trò, GS. Trần Quốc Vượng là người THẦY đúng nghĩa, người THẦY viết hoa. Lối ứng xử chân tình, dân dã và tri thức uyên bác của ông đã trở thành một nét rất riêng Trần Quốc Vượng, lôi cuốn và làm say biết bao nhiêu người rong ruổi theo ông trên hành trình “” của mình. Đối với giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của khu vực Đông Nam Á và thế giới, GS. Trần Quốc Vượng được đánh giá cao bởi những đóng góp và ý tưởng khoa học mới lạ, độc và sắc của mình ở bất kỳ lĩnh vực nào mà ông quan tâm. Ông tham gia, chủ trì và đồng chủ trì nhiều Hội thảo khoa học trong nước và quốc tế (Nga, Mỹ, Nhật, Hàn, Thái, Malaysia, Philippines...). Một số công trình nghiên cứu của ông đã được công bố ở nước ngoài như “Việt Nam khảo cổ học-tiếng Nhật”, “Vietnam Folklore and History”, “Some aspects of Vietnam Culture”, “ Confucianism in East Asia”... Ông đã góp công gây dựng, thiết lập nhiều mối quan hệ hợp tác quốc tế cho một số ngành đào tạo của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, qua đó bước đầu tạo điều kiện để hội nhập với môi trường học thuật khu vực và quốc tế. .
| Trong suốt cuộc đời dạy học của mình, bất kỳ ở đâu, với đối tượng nào, cái mà ông đau đáu chính là tạo cho sinh viên một phương pháp tư duy đại học, biến quá trình Đại học thành quá trình Tự học mà trong đó, điều quan trọng bậc nhất là dám đặt lại vấn đề, dám nghĩ khác và dám dấn thân vào những góc khuất, những gai góc, những nẻo đường chưa hoặc ít được khai phá của khoa học. |
GS. Trần Quốc Vượng là một trong những nhà khảo cổ học đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và giảng dạy môn Khảo cổ học ở khoa Lịch sử. Cùng với GS. Hà Văn Tấn, GS. Trần Quốc Vượng là những người khởi thuỷ của ngành Khảo cổ học của nước Việt Nam độc lập, “bởi khi người Pháp ra đi khỏi miền Bắc vào trước ngày 10/10/1954, họ đã không để lại một nhà khảo cổ học Việt Nam nào”. Có thể nói một cách không ngoa rằng, hầu hết những người làm khảo cổ ở Việt Nam hiện nay là học trò của ông (họ thường trìu mến gọi ông là Thầy Vượng/ Cụ Vượng và xưng con). Biết bao thế hệ học trò của Khoa Sử đã chọn Khảo cổ làm lẽ sống và sự nghiệp cho mình bởi một lý do rất đơn giản vì say ông, say những bài giảng của ông, những bài giảng được thể hiện bằng một cách rất riêng, rất Trần Quốc Vượng. Không mạch lạc theo lối trường quy, không dễ ghi chép nhưng đầy ắp ý tưởng, buộc người học phải suy ngẫm, phải đau đầu. Những ý tưởng khoa học mới, độc đáo của ông không phải đã được học trò hiểu và tiếp nhận ngay trong lúc học nhưng mãi theo họ trong quá trình “nghiệm sinh” của cuộc đời. Một học trò của ông nay đã thành danh tâm sự: Ngày ấy, nhiều thầy giảng rất có phương pháp sư phạm và khoa học. Đầy đủ các đề mục Một La-mã, Một Ả-rập... rất dễ ghi chép, nhưng bây giờ tôi quên sạch. Còn thầy Vượng giảng chẳng ghi được mấy, nhưng những lúc cần nhớ tôi nhớ hết. Ông luôn là tấm gương mà nhờ đó lớp học trò của ông sớm trưởng thành. Những ngưòi học trò của GS. Trần Quốc Vượng không chỉ được ông truyền nghề mà còn được truyền cả cách sống nữa. Với tính cách của mình, ông để lại dấu ấn rất sâu đậm trong các thế hệ học trò. Có lẽ hiếm người thầy nào đi suốt dọc từ Nam chí Bắc đều có học trò như ông, học trò của ông ở nhiều độ tuổi khác nhau, không ít người giữ cương vị cao trong chính quyền, có người tuổi cũng đã thất thập, nhưng tất thảy đều giữ chữ “kính” và tình cảm say mê đến mức “đam mê” đối với ông. Có lẽ đối với một người thầy, thì tình cảm của học trò còn hơn bất kỳ một phần thưởng, một danh hiệu nào.
| Mỗi trang viết của ông là kết quả của quá trình tìm tòi suy ngẫm và nghiệm sinh lâu dài, hiện đại về tư liệu, xử lý tài tình mối quan hệ biện chứng giữa Phá bỏ - Bảo tồn - Sáng tạo và đặc biệt ông cố gắng hết mức để gọi sự vật bằng chính cái tên của nó. Đối với những nhà nghiên cứu lịch sử, theo ông có một nguyên tắc tối thượng, đó là “Nghiêm thay sử bút”. |
|
Ngày 20 tháng 01 năm 2012, Chủ tịch nước đã quyết định tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho Cụm công trình: Văn hóa Việt Nam – truyền thống và hiện đại, bao gồm các công trình: |